Có những con người mà khi nhắc tên, hậu thế nghĩ ngay đến sự thanh sạch và cứng cỏi. Cụ Huỳnh Thúc Kháng là một người như thế. Cụ là nhà chí sĩ yêu nước, nhà hoạt động chính trị, văn hóa và báo chí, có nhiều đóng góp lớn cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Nhân dịp kỷ niệm 150 năm Ngày sinh của cụ, nhìn lại cuộc đời ấy không chỉ để tri ân mà còn để tự soi mình: hôm nay mỗi chúng ta đang phụng sự điều gì, và phụng sự bằng cách nào.
Từ bậc đại khoa đến người khởi xướng phong trào Duy Tân
Cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc nhỏ tên Huỳnh Văn Thước, khi đi học gọi là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên. Cụ sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Thông minh và ham học từ nhỏ, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1900 và đỗ Tiến sĩ năm 1904.
Con đường công danh đã rộng mở trước mắt, nhưng cụ không ra làm quan. Cụ chọn con đường khó hơn: canh tân để cứu nước. Tâm niệm “Ngu dân khởi hữu quyền” (dân ngu muội thì làm gì có quyền) dẫn cụ tới chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
Những năm 1905–1906, cụ cùng cụ Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào phía Nam xem xét dân tình, rồi trở về Quảng Nam khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân. Cụ đi diễn thuyết, vận động nhân dân bỏ lối học khoa cử để chú trọng thực học, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, lập thương hội, cổ vũ sản xuất. Với cụ, mở mang trí tuệ bao giờ cũng phải đi cùng chấn hưng kinh tế và cải thiện đời sống của dân.
Phong trào lan rộng khiến chính quyền thực dân lo sợ. Năm 1908, cụ bị bắt và đày ra Côn Đảo. Mười ba năm tù khổ sai (1908–1921) không bẻ gãy được ý chí của cụ. Cụ biến nhà tù thành trường học: tự học tiếng Pháp, đọc sách báo thế giới, làm thơ xướng họa để giữ tinh thần cho bạn tù, và tham gia viết “Tuồng Trưng Vương” đề cao lòng yêu nước và khát vọng bình quyền.

Tiếng nói của dân trên nghị trường và mặt báo
Ra tù năm 1921, cụ tiếp tục đấu tranh bằng những phương tiện công khai. Năm 1926, cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tại nghị trường, cụ chất vấn, đòi quyền lợi cho Nhân dân, đề xuất ban hành hiến pháp, mở rộng dân chủ và phản đối gay gắt chính sách bóc lột của thực dân Pháp và Nam triều. Khi thấy rõ diễn đàn ấy bị chính quyền bảo hộ can thiệp và bó buộc, năm 1928, cụ từ chức để phản đối Khâm sứ Trung Kỳ. Với cụ, cống hiến thực chất quan trọng hơn mọi địa vị.
Năm 1927, cụ sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế, làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Tờ báo ra liên tục 16 năm, được 1.766 số, cho đến khi bị đình bản năm 1943. Tôn chỉ của Tiếng Dân là giữ tiếng nói độc lập, không xu phụ nhà cầm quyền, dám phản ánh áp bức và bất công. Dưới sự kiểm duyệt khắt khe, những bài bị cắt bỏ được cụ để trống nguyên trên mặt báo, để độc giả tự thấy bàn tay kiểm duyệt; cụ không bao giờ tự kiểm duyệt chính mình. Tiếng Dân còn đăng nhiều bài viết lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1939, cụ xuất bản “Thi tù tùng thoại”, lưu giữ nhiều tư liệu quý về phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.
Gánh vác việc nước trong chính quyền cách mạng
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trân trọng tài năng và uy tín của cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ tham gia Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Người đánh giá cụ là “một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”. Sự có mặt của cụ trong Chính phủ là biểu hiện sinh động của chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Đầu năm 1946, cụ làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, tập hợp các tầng lớp xã hội tham gia kháng chiến, kiến quốc. Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, cụ được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước, cùng lời căn dặn “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Ở tuổi ngoài bảy mươi, cụ vẫn điều hành bộ máy nhà nước vững vàng, chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ, xử lý nhiều việc khó và trấn áp các thế lực phản cách mạng. Trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết lời ngợi ca sự lãnh đạo sáng suốt của cụ trong việc giữ vững ổn định đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, bên phải) trong Chính phủ đầu tiên. Ảnh tư liệu
Tháng 12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ nhận nhiệm vụ Đặc phái viên của Chính phủ vào kinh lý miền Trung, truyền đạt đường lối kháng chiến và kêu gọi đồng bào đoàn kết. Trên hành trình ấy, cụ lâm bệnh nặng và qua đời tại Quảng Ngãi ngày 21/4/1947, thọ 70 tuổi. Ngày 27/12/2012, Đảng và Nhà nước truy tặng cụ Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý nhất.
Nhân cách lớn và những bài học còn nguyên giá trị
Từ cuộc đời ấy có thể rút ra ba bài học lớn. Với đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là bài học về danh dự và lòng tự trọng: danh dự không nằm ở chức vụ mà ở sự trung thực, liêm chính, dám nhận trách nhiệm và đặt lợi ích tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Với thế hệ trẻ, đó là tinh thần dấn thân, có lý tưởng để biết mình phụng sự điều gì, có năng lực để gánh vác việc khó, và có bản lĩnh để không vì lợi riêng mà từ bỏ điều đúng. Với toàn xã hội, đó là tinh thần đại đoàn kết: tôn trọng khác biệt, phát huy điểm tương đồng, gần dân, hiểu dân và lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo.
Trường Quốc tế học tập và làm theo tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng
Đối với Trường Quốc tế – môi trường đào tạo gắn với hội nhập, ngoại ngữ và tri thức toàn cầu, tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng có ý nghĩa đặc biệt gần gũi. Hơn một thế kỷ trước, cụ đã chủ trương “thực học”, dám từ bỏ lối học khoa cử để mở mang tri thức mới, tự học tiếng Pháp ngay trong nhà tù để hiểu thế giới. Tinh thần ấy chính là cốt lõi của Nhà trường hôm nay: học để hội nhập nhưng không hòa tan, tiếp thu tinh hoa nhân loại để phụng sự đất nước.

Đối với cán bộ, giảng viên, người lao động, học tập cụ trước hết là giữ gìn sự liêm chính trong giảng dạy, nghiên cứu và quản lý: trung thực trong đánh giá người học, nghiêm túc với chuẩn mực học thuật. Như cụ từng rời nghị trường vì đặt cống hiến thực chất lên trên địa vị, mỗi người thầy cần coi chất lượng thật của người học là thước đo công việc của mình. Học tập cụ cũng là không ngừng tự học, chủ động nâng cao năng lực chuyên môn và ngoại ngữ, đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng hiệu quả chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo theo chuẩn mực quốc tế. Trong ứng xử, đó là thẳng thắn, cầu thị, dám bảo vệ cái đúng nhưng tôn trọng đồng nghiệp; thận trọng, chuẩn mực trong phát ngôn, kể cả trên không gian mạng.
Đối với sinh viên, học tập cụ là nuôi dưỡng lý tưởng và khát vọng cống hiến. Học ở một môi trường quốc tế, người học có nhiều cơ hội tiếp cận tri thức và các nền văn hóa khác nhau; điều quan trọng là luôn tự hỏi mình học để làm gì và phụng sự điều gì. Cụ Huỳnh học rộng mà vẫn giữ trọn cốt cách Việt. Sinh viên hôm nay cũng cần giỏi ngoại ngữ, vững chuyên môn, tự tin hội nhập, đồng thời hiểu lịch sử, yêu quê hương và có trách nhiệm với cộng đồng. Tinh thần “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là lời nhắc quý giá cho người trẻ trong thế giới nhiều biến động: giữ vững giá trị cốt lõi, linh hoạt thích ứng với cái mới. Học tập cụ còn là rèn luyện bản lĩnh, trung thực trong học tập và thi cử, tích cực tham gia hoạt động tình nguyện, sẵn sàng gánh vác việc chung.
Học tập tấm gương cụ Huỳnh Thúc Kháng không chỉ là ôn lại quá khứ, mà là biến những giá trị đạo đức cao đẹp ấy thành hành động hằng ngày. Với Trường Quốc tế, đó là mỗi giờ giảng tận tâm, mỗi công trình nghiên cứu trung thực, mỗi sinh viên trưởng thành vừa có tầm nhìn toàn cầu vừa có trái tim Việt Nam. Qua đó, góp phần khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng xây dựng một đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Thùy Lâm

