Đầu tư hay không đầu tư học đại học?

9/12/2020 10:44:49 PM
Trong xã hội hiện đại ngày nay, câu chuyện có nên học đại học ngay sau khi tốt nghiệp THPT hay không đang là vấn đề còn khá nhiều tranh cãi.

TS. Tôn Quang Cường

Chủ nhiệm Khoa Công nghệ Giáo dục

Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN

Từ nhiều góc nhìn khác nhau về bối cảnh xã hội, gia đình, định hướng nghề nghiệp tương lai, nhu cầu, năng lực cá nhân, thực tiễn giáo dục, cơ hội học tập ngày càng mở… mỗi cá nhân đều có một lí do “không của riêng ai”, khiến câu chuyện này lại càng trở nên đa sắc màu. Tuy nhiên, mấu chốt của vấn đề lại nằm chính ở các chủ thể lựa chọn, khi mà sự cân nhắc chỉ cần hơi nghiêng, lệch đi một chút là có thể chuyển sang xu hướng hướng tiêu cực. Có nhất thiết phải bằng mọi giá để vào đại học trong khi…; Vào đại học làm gì khi…; Có nên đi học đại học ngay sau khi tốt nghiệp THPT hay để khi…chính là những suy nghĩ, băn khoăn, do dự khá phổ biến hiện nay.

Có nên vào đại học ngay và luôn…?

Nguyện vọng trên là chính đáng đối với đa số các trường hợp muốn quãng đường học hành được tiếp nối suôn sẻ. Xét trên bình diện xã hội đây là bài toán tối ưu khi các điều kiện về tâm lí, năng lực nhận thức, hình thành các kĩ năng cơ bản để bước vào cuộc sống, ra thị trường lao động của giới trẻ đang trên đà phát triển khá thuận lợi sau thời gian học tập ở phổ thông. Liên tiếp 3 năm trở lại đây, con số tỉ lệ khoảng 1/3 học sinh tốt nghiệp THPT ở Việt Nam không đăng kí ngay vào đại học cho thấy khả năng phân luồng, định hướng nghề nghiệp đang theo xu hướng đáp ứng nhu cầu xã hội. Phần đông trong số đó lựa chọn con đường học nghề để có thể sớm tham gia vào thị trường lao động hoặc đi làm ngay. Sau đó nếu có điều kiện sẽ học tiếp lên để hoàn thiện và đáp ứng các yêu cầu của nghề nghiệp và nhu cầu phát triển cá nhân. Cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại, tư duy “bằng cấp”, “vinh danh” đại học cũng có xu hướng nhường chỗ cho một cái nhìn thực tế hơn: bạn sẽ làm được gì cho bản thân, gia đình, đóng góp gì cho xã hội.

Ngay khi bước chân vào đại học, tân sinh viên Khoa Quốc tế đã được tham gia các khóa học của Tuần lễ hội nhập, trong đó các em được  nghe các diễn giả nổi tiếng trao đổi, chi sẻ. 

Mặt khác, thực tế hiện nay trong giới “Thế hệ Z” (sinh sau 1996 trở lại đây) xuất hiện xu hướng lựa chọn “gap year” (tạm dịch là – năm trải nghiệm) để làm quen với cuộc sống, tìm kiếm các trải nghiệm mới, tìm hiểu và định giá lại bản thân về mọi mặt thay vì tiếp tục học ngay ở đại học. Phần lớn giới trẻ, với một tư duy thực tế hơn (so với những quan niệm của cha mẹ) đã lựa chọn quãng thời gian này cho việc tìm hiểu các môi trường làm việc, thử sức mình trong các dự án khởi nghiệp nhỏ, trải nghiệm du lịch khám phá, hoạt động tình nguyện cộng đồng…và những mục đích cá nhân khác. Xu hướng này được du nhập từ những nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, ở đó các cơ hội học tập lên bậc cao hơn luôn được rộng mở với triết lí tạo cơ hội học tập suốt đời, học tập liên tục cho mọi người. Các giới định về lứa tuổi, thành phần, bậc học được coi là tương đối trong một xã hội học tập không ngừng phát triển.

Vào đại học để làm gì…?
Không thể phủ nhận vai trò của giáo dục đại học trong sự phát triển đi lên của xã hội, khoa học công nghệ, kĩ thuật…hiện nay. Nếu như trước đây thường có một quan điểm khá rạch ròi về “chức năng đào tạo” của giáo dục đại học (nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, đào tạo nhân tài, tinh hoa trí thức…) thì hiện nay các mô hình giáo dục đại học ngày càng thể hiện chức năng xã hội nổi trội hơn. 

Trong quá trình học, sinh viên được thực hiện các dự án thực tế khác nhau, giúp các em trang bị kỹ năng mềm cần thiết. 

Các mối quan hệ và chức năng xã hội ngày càng được bộc lộ rõ, đan xen mật thiết vào quá trình đào tạo. Các nhà trường đại học luôn không ngừng nỗ lực phấn đấu, điều chỉnh, cập nhật các chương trình, phương thức đào tạo nhằm mang lại cho sinh viên một cảm giác đây là một thế giới, xã hội thu nhỏ. Ở đó, sinh viên không chỉ được học tập, rèn luyện, nghiên cứu, thực tập nghề…mà còn có nhiều cơ hội để rèn luyện phát triển các năng lực xã hội và bản thân. Các mô hình giáo dục đại học mới: liên kết quốc tế, du học tại chỗ, nhà trường-viện nghiên cứu-doanh nghiệp, nhà trường-vườn ươm sáng tạo, khởi nghiệp, đại học trong doanh nghiệp… đang dần thay thế cho các mô hình đào tạo cứng nhắc, không phù hợp trong bối cảnh xã hội hiện nay. Điều này không phải bậc phụ huynh nào cũng nắm rõ, khiến cho những lời khuyên, định hướng của họ đôi khi phiến diện, mâu thuẫn với những nguyện vọng của con cái mình. Càng đáng nói hơn, nếu vẫn còn lối tư duy cũ đó là vào đại học chỉ để học, sau khi học xong đại học mới “học làm”! Đây cũng chính là sự do dự, ngập ngừng của phần lớn học sinh cũng như các bậc phụ huynh hiện nay. 

Những dự báo gây chú ý hiện nay trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư về khả năng đến năm 2030 khoảng 45-65% ngành nghề, việc làm mà các nhà trường đang đào tạo sẽ biến mất đang đặt ra rất nhiều thách thức cho giáo dục đại học quốc tế và trong nước.

Các em được học các chủ đề thực tế với các chính khách nước ngoài, các chuyên gia trong các tập đoàn lớn. 

Hầu hết các nhà trường hiện đại đều đi theo xu hướng không để thời gian học đại học trở thành một “thời kì” độc lập, tách biệt khỏi quá trình định hướng và tiếp cận nghề nghiệp sau này của sinh viên. Điều này đồng nghĩa với việc mọi nỗ lực của tất cả các bên phải hướng đến khả năng tiếp cận mở, tiếp cận sớm và phù hợp với thị trường lao động, cơ hội việc làm sau này cho người học. Cũng phải thừa nhận rằng bên cạnh những mô hình mới đang được vận hành thì vẫn còn không ít nhà trường còn chậm đổi mới, chưa đưa được những triết lí và cách tiếp cận mới trong đào tạo vào quá trình vận hành và phát triển của nhà trường.

Đầu tư hay không đầu tư đi học đại học?
Với các xu hướng giáo dục đại học hiện đại các cơ hội học tập ở bậc đại học và cùng với đó là bài toán đầu tư chi phí đang rất rộng mở. Bài toán tính chi phí thuần túy ROI (Return On Investment) là học tốn bao nhiêu, sau này đi làm sẽ “hồi vốn”, “lợi nhuận ròng trên chi phí đầu tư” được bao nhiêu như thời kì trước đây sẽ không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay. 

Xét về mặt kinh tế, đầu tư cho giáo dục đại học là đầu tư phát triển chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu nhập cho bản thân người lao động được đào tạo. Ở cấp độ vi mô, giáo dục đại học được coi như một “thị trường hàng hóa, dịch vụ đặc biệt”. Học phí là “giá cả của việc học” có tác động liên quan đến lợi ích của bên “cung cấp dịch vụ” và “người được hưởng dịch vụ”.  Đây chính là lí do cốt lõi thúc đẩy xu hướng nhà nước, các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo, gia đình và người học sẵn sàng đầu tư nguồn lực nhiều hơn cho giáo dục đại học với mong muốn có được những sản phẩm chất lượng ngày càng cao.

Các em có cơ hội tham gia nhiều các cuộc thi, diễn đàn trong nước và quốc tế. 

Với cách tiếp cận như vậy, đầu tư cho việc đi học đại học hiện nay của các gia đình nên được coi là “sự chia sẻ chi phí” (theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, tỉ lệ phần trăm đóng góp vào chia sẻ chi phí trên đầu sinh viên hiện nay vào khoảng hơn 40% từ Nhà nước và các nguồn khác, gần 60% - từ phía người học). Cũng theo cách tính và thống kê sơ bộ, tổng “đầu tư” (qua học phí) vào khoảng 60-80 triệu đồng cho một chương trình đào tạo 4 năm ở đại học công lập Việt Nam (con số này là quá thấp so với mặt bằng chung của giáo dục đại học thế giới, chỉ bằng khoảng 1/25-30). Người tốt nghiệp sau khoảng 2 năm có việc làm là có thể thu hồi “vốn đầu tư ban đầu” trong khi cùng tình trạng so sánh thì ở nước ngoài thời gian bỏ ra thường mất tới 4-5 năm.

Trong một diễn biến khác, có thể thấy “dòng” và cách “đầu tư” vào giáo dục đại học hay cho việc học của chính bản thân người học cũng có những thay đổi theo xu hướng tích cực. Một số nhà trường thu học phí cao (tính trên mặt bằng chung) nhưng đồng thời cũng đưa ra các chính sách hỗ trợ đa dạng với mức hỗ trợ cao cho các đối tượng sinh viên. Chính sách này hướng đến nỗ lực tạo sự cân bằng hợp lí giữa chi phí trên đầu sinh viên (đảm bảo chất lượng đào tạo) và hỗ trợ sinh viên (đảm bảo an sinh, công bằng xã hội). Các nguồn, loại, dạng học bổng phong phú, có giá trị cao được phân phối công bằng, kênh cho vay tín dụng học tập đa dạng kèm theo các chính sách ưu đãi đặc thù dành cho người học, các cơ hội việc làm thêm ngay trong khi đi học…sẽ là những giải pháp tháo gỡ “rào cản tài chính” trước giảng đường đại học của phần đông người học. Trong thực tế, đã có không ít trường hợp sinh viên lựa chọn tham gia song song hai ngành đào tạo để giảm chi phí đầu tư về thời gian, tăng cơ hội việc làm sau tốt nghiệp; mạnh dạn vay vốn ngân hàng để trang trải chi phí khi chọn những ngành “hot” đang khát nguồn nhân lực và có mức lương hấp dẫn; tham gia vào những chương trình kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, đơn vị đối tác để có thêm thu nhập ngay khi đi học. Cá biệt có trường hợp đã biến quá trình học tập thành cơ hội khởi nghiệp, phòng thí nghiệm thành nơi sản xuất thử nghiệm và chuyển giao công nghệ, ý tưởng đổi mới sáng tạo thành hiện thực qua mô hình Spin-off… Và trên hết là người học có thể phần nào tự trang trải được chi phí học tập, sinh hoạt trong thời gian học đại học. Các mô hình “đầu tư lãi kép” này rất đáng được nhân rộng giúp cho sinh viên giải phóng được năng lực tiềm tàng của cá nhân, phát triển các kĩ năng xã hội, thúc đẩy cơ hội tiếp cận sớm với thị trường lao động và việc làm… Xây dựng một lộ trình học tập tiếp theo của cuộc đời, một kế hoạch tài chính với đầy đủ các dữ kiện theo bối cảnh cá nhân là một việc làm khá mới mẻ, thách thức nhưng cực kì cần thiết và khá thú vị đối với các bạn đã tốt nghiệp phổ thông. Phải chăng, đối với chính các bạn, đây cũng là một bài Test đầu tiên khi lựa chọn con đường tiếp tục học lên ở bậc đại học?!

Giao lưu học tập ở các trường đại học nước ngoài và giao lưu học hỏi các bạn sinh viên quốc tế tại Việt Nam là hoạt động thường xyên tại Khoa Quốc tế. 

Tóm lại, việc học không bao giờ là muộn, đầu tư cho việc học không bao giờ là đầu tư rỗng, chọn thời điểm bắt đầu và đích đến là quyết định của mỗi bạn trẻ hôm nay! 

TS Tôn Quang Cường

Chủ nhiệm Khoa Công nghệ Giáo dục

Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN

Học chương trình đại học tại Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) có điều gì khác biệt? Sinh viên trước hết được làm quen với những bài học đầu tiên - “học để biết” về quốc tế và cộng đồng. Chính từ nền tảng cơ bản nhất ấy đã dần hình thành hệ thống kiến thức toàn diện ở bậc đại học. Từ việc tiếp nhận kiến thức do các thầy, cô truyền thụ đến việc tự làm giàu vốn kiến thức cho mình, qua đó nắm được những quy luật vận động của tự nhiên, những quy tắc chuẩn mực của xã hội và thời đại, cách sống và hiểu hơn về giá trị cuộc sống. Sinh viên, song song với việc tiếp thu kiến thức, sẽ được tham gia vào các hoạt động mang tính chất cộng đồng xã hội: “học để làm”, “học đi đôi với hành”.

Trong gần 20 năm xây dựng và phát triển, Khoa luôn coi trọng việc đào tạo những cán bộ có trình độ chuyên môn tốt, có khả năng sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ, được trang bị những kỹ năng mềm và quan trọng hơn cả, đáp ứng được ngay với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Có thể tự hào khẳng định, thế hệ học viên, sinh viên tốt nghiệp đã gặt hái được những thành công nhất định trong các lĩnh vực công tác khác nhau, trên các cương vị công việc khác nhau. Học viên, sinh viên Khoa làm việc trong các cơ quan, đơn vị khác nhau, như Bộ Kế hoạch - đầu tư, Thanh tra Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Bộ Công an, Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam, các ngân hàng, các trường đại học, cao đẳng, các doanh nghiệp nước ngoài… Thành công của học viên, sinh viên đã khẳng định mô hình phát triển của Khoa là đúng đắn, phù hợp với định hướng phát triển của ĐHQGHN và phù hợp với nhu cầu xã hội về đào tạo nguồn nhân lực bậc trung và cao trong điều kiện hội nhập quốc tế.


 

Lên đầu trangLên đầu trang